Sự Tích Con Dã Tràng – Truyện Cổ Tích Việt Nam

Dân gian Việt Nam có câu “Dã Tràng xe cát biển Đông”. Hãy cùng đọc truyện cổ tích Sự tích con Dã Tràng để tìm hiểu về nguyên nhân và ý nghĩa của câu nói này nhé!

Truyện cổ tích Sự tích con Dã Tràng:

Ngày xưa, có hai vợ chồng ông già tên là Dã Tràng.

Trong vườn có một cái hang rắn.

Thường ngày làm cỏ gần đấy, ông già vẫn thấy có một cặp rắn hổ mang ra vào trong hang.

Một hôm, con rắng chồng bò ra khỏi hang một mình.

Ông nhìn thấy rắn vợ nằm cuộn ở trong, vì mới lột nên mình mẩy của nó còn yếu ớt không cựa quậy được.

Một lúc sau, rắn chồng bò trở về, miệng tha một con nhái đút cho rắn vợ ăn.

Ít lâu sau, Dã Tràng lại thấy rắn vợ bò ra khỏi hang một mình.

Lần này rắn chồng đến kỳ lột nằm im thin thít.

Hồi lâu rắn vợ trở về, theo sau rắn vợ thấy một con rắn đực khác khá lớn.

Dã Tràng thấy hai con bò đến cửa hang thì dừng lại rồi quấn lấy nhau như bện dây thừng.

Một lát sau, con rắn đực bò một mình vào hang.

Dã Tràng biết con rắn đực này toan làm gì rồi.

Tự nhiên ông thấy ngứa mắt muốn trừ bỏ con rắn đó đi để cứu con rắn chồng đang lúc suy nhược.

Lúc đó bên mình không có cái gì cả, ông bèn rút một mũi tên nhắm vào con rắn đực mới đến, bắn ngay một phát.

Không ngờ mũi tên lại trúng vào đầu con rắn vợ làm nó chết tươi.

Con rắn đực kia hoảng hồn chạy mất.

Dã Tràng nghĩ cũng thương con rắn cái nhưng trong thương có lẫn cái giận, nên ông chán nản bỏ về nhà.

Từ đó ông không thèm để ý đến hang rắn nữa.

Chừng một năm sau, một hôm, Dã Tràng nằm võng thuật chuyện vợ chồng con rắn cho vợ nghe và kể những việc mình đã thấy và đã làm.

Ông kể vừa dứt thì tự nhiên nghe trên mái nhà có tiếng phì phì.

Cả hai người hốt hoảng nhìn lên thì thấy có một con rắn hổ mang rất lớn, đuôi quấn lấy xà nhà, đầu vươn xuống tới gần chỗ ông nằm, miệng nhả một viên ngọc.

Ông vừa cầm lấy thì bỗng nghe được tiếng rắn nói:

– Ông là ân nhân mà tôi cứ tưởng là kẻ thù.

Mấy hôm nay tôi đợi ông trên mái nhà này chỉ chực mổ chết để báo thù cho vợ tôi.

Nhưng hồi nãy nghe ông kể chuyện rõ ràng, tôi mới biết là mình lầm.

Xin biếu ông viên ngọc này.

Đeo nó vào mình thì có thể nghe hiểu được tiếng muông thú trên thế gian này.

Từ kinh ngạc đến sung sướng, Dã Tràng nhận viên ngọc quý và từ đó ông không bao giờ rời.

Một hôm, Dã Tràng đang hái rau, tự dưng có một bầy quạ đến đậu ở mấy ngọn cau nói chuyện xôn xao.

Chúng nó bảo Dã Tràng rằng: ở núi Nam có một con dê bị hổ vồ.

Hãy lên đó lấy về mà ăn nhưng nhớ để lòng lại cho chúng nó.

Dã Tràng làm theo lời quạ, quả thấy xác một con dê trên núi Nam.

Ông xẻo lấy một ít thịt xâu lại xách về.

Đến nhà, ông vội mách cho xóm giềng biết mà đi lấy, không quên dặn họ để lại bộ ruột dê cho bầy quạ.

Nhưng ông không ngờ người hàng xóm nghe tin ấy đua nhau đi đông quá, thành ra họ lấy hết cả, chẳng chừa một tí gì.

Lũ quạ không thấy ruột dê, cho là Dã Tràng đánh lừa bèn đổ xô đến vườn ông réo om lên.

Thấy vậy, ông biết là người trong xóm đã hại mình không giữ chữ tín với bầy quạ.

Ông phân trần mấy lần nhưng bầy quạ không nghe, cứ đứng đó chửi mãi.

Tức mình, ông bèn lấy cung tên bắn vào chúng.

Chủ ý để đuổi chúng đi chứ không định giết.

Chẳng ngờ bầy quạ thấy vậy cho là ông lấy oán trả ân, liền cắp lấy mũi tên có đề tên Dã Tràng ở đuôi, tìm dịp báo thù.

Lúc bay qua sông thấy một cái xác chết trôi, đàn quạ bèn đem mũi tên ấy cắm vào yết hầu xác chết.

Khi quan sở tại đến làm biên bản, thấy mũi tên, liền đoán ngay Dã Tràng là thủ phạm, sai lính bắt ông hạ ngục.

Từ đề lao tỉnh, ông lại bị điệu đi.

Dọc đường trời tối, bọn lính dừng lại ăn uống nghỉ ngơi.

Dã Tràng cổ bị gông, chân bị xiềng nằm trên đống rơm buồn rầu không ngủ được.

Lúc trời gần rạng, ông nghe có một đàn chim sẻ bay ngang đầu nói chuyện với nhau:

– Nhanh lên! Chuyến này không lo đói nữa mà cũng chả sợ ai đánh đuổi cả.

Một con khác hỏi:

– Của ai mang đến bỏ vương vãi thế?

Con nọ trả lời:

– Của vua nước bên kia. Họ toan kéo sang đánh úp bên này.

Ngày hôm qua quân đội giáo mác kéo đi liên miên không ngớt, nhưng xe thóc vừa đến biên giới thì bị sụp hầm đổ hết.

Họ đang trở về lấy lương khác cho nên chúng ta tha hồ chén.

Nghe đoạn, chờ lúc bọn lính thúc giục lên đường, Dã Tràng bảo họ:

– Xin các ông bẩm lại với quan rằng: việc của tôi là việc oan uổng và nhỏ mọn, không nên bận tâm, mà giờ đây chỉ nên lo việc quốc gia trọng đại thôi, và còn cấp bách nữa là khác.

Bọn lính tra gạn ông mãi nhưng ông không nói gì thêm, chỉ nài rằng hễ có mặt quan thì mới tỏ bày rõ ràng.

Khi gặp mấy vị quan đầu tỉnh, Dã Tràng mới cho họ biết rằng vua Hiến Đế ở phương Bắc đã sai tướng mang quân sang đánh úp nước mình.

Hiện họ đang đóng quân ở đầy biên giới, chỉ vì sụp hầm, xe lương đổ hết chưa tấn công được.

Bây giờ họ đang vận chuyển thêm lương, chờ đầy đủ sẽ vượt ải sang Nam.

Bọn quan tỉnh lấy làm lo lắng, nhưng cũng cố hỏi ông có dám chắc như vậy không.

Dã Tràng chỉ vào đầu mình mà quả quyết rằng, nếu nói sai, ông sẽ xin chịu chết.

Nhưng nếu lời của ông đúng thì xin bề trên thả ra cho.

Ngay lúc đó, những tên quân do thám được tung đi tới tấp để lấy tin.

Và nội ngày hôm sau, Dã Tràng được thả vì lời mách của ông quả không sau và vừa vặn đúng lúc để chuẩn bị đối phó với địch.

Được tha, Dã Tràng đi bộ lần về quê nhà.

Bóng chiều vừa ngả, ông mới đến vùng Hồng Hoa.

Ông tìm cách vào nhà người bạn rất thân là Trần Anh nghỉ chân.

Khi gặp bạn cũ, vợ chồng Trần Anh vui mừng khôn xiết.

Nghe tin ông bị tra tấn gông cùm và suýt mất đầu, hai vợ chồng rất cảm thương bạn.

Thấy bữa ăn tối thết bạn không có gì, Trần Anh xuống bếp bảo vợ:

– Bạn ta đến lại gặp lúc trong nhà chẳng có gì ăn.

Sẵn có cặp ngỗng, con nó đã khôn, ta làm thịt một con, ngày mai đãi bạn lên đường.

Người vợ đồng ý, nhưng dặn chồng sáng dậy sớm bắt ngỗng và cắt tiết vặt lông giúp mình một tay.

Trong khi hai vợ chồng bàn tính thì cặp ngỗng ở ngoài chuồng nghe được câu chuyện.

Ngỗng trống bảo ngỗng mái:

– Mình ơi! Mình hãy ở lại nuôi con, tôi sẽ đứng sẵn cho chủ nó bắt!…

Ngỗng mái không nghe, xin chết thay cho chồng.

Nhưng ngỗng trống nhất quyết hy sinh, chạy ra sân từ giã đàn con:

– Con ơi! Các con ở lại với mẹ nghe. Cha không bao giờ gặp lại các con nữa!…

Nhưng ngỗng mái lạch bạch chạy theo, đòi chết thay chồng cho bằng được.

Lúc ấy Dã Tràng nằm trên bộ ván đặt gần cửa sổ nên nghe được tiếng ngỗng than thở.

Ông bỗng thấy thương con vật vô tội chỉ vì mình mà lìa đàn con bé bỏng.

Ông toan nói trước với bạn, nhưng thấy bất tiện.

Ông đành nghe ngóng ở chỗ chuồng ngỗng chờ lúc bạn bắt thì sẽ cản lại.

Suốt đêm hôm đó tuy mệt mà ông không dám ngủ.

Quả nhiên vào canh tư, Trần Anh thức dậy bước ra chuồng.

Ngỗng trống xua ngỗng mái chạy rồi vươn cổ để cho bắt.

Khi Trần Anh sắp cắt cổ ngỗng thì Dã Tràng đã lật đật chạy xuống bếp nắm lấy dao. Ông nói:

– Xin bạn thả nó ra.

Tính tôi không hay sát sinh.

Tình bạn của chúng ta đâu phải có cỗ bàn mới thân sao?

Nếu bạn giết nó thì tôi lập tức đi khỏi chỗ này.

Thấy bạn có vẻ quả quyết, Trần Anh đành thả ngỗng ra, ròi giục vợ chạy đi mua tép về đãi bạn.

Cơm nước xong, Dã Tràng từ giã bạn lên đường về nhà.

Đến ao, ông đã thấy vợ chồng nhà ngỗng cùng với đàn con đứng chực ở đấy.

Ngỗng đực tặng Dã Tràng một viên ngọc và nói:

– Đa tạ ân cứu mạng.

Không biết lấy gì báo đền, chúng tôi xin tặng ngời viên ngọc này, mang nó vào người có thể đi được dưới nước dễ dàng không khác gì trên bộ.

Nếu đem ngọc này xuống nước mà khoắng thì sẽ rung động đến tận đáy biển.

Ngỗng lại nói tiếp:

– Còn như con tép là vật đã thế mạng chúng thôi thì từ nay dòng dõi chúng tôi sẽ xin chừa tép ra không ăn, để tỏ lòng nhớ ơn.

Dã Tràng không ngờ có sự báo đáp quá hậu như thế, sung sướng nhận lấy ngọc rồi về.

Khi đến bờ sông, Dã Tràng muốn thử xem công hiệu của viên ngọc mới, liền cứ để nguyên quần áo đi xuống nước.

Ông dạo cảnh hồi lâu rồi cầm viên ngọc khoắng vào nước nhiều lần để xem hiệu quả thế nào.

Hôm đó, Long Vương và các triều thần đang hội họp ở thuỷ phủ bỗng thấy nhà cửa lâu đài và mọi kiến trúc khác tự nhiên rung động, cơ hồ muốn đổ.

Ai nấy đều nháo nhác không hiểu duyên cớ.

Vua lập tức truyền cho thuộc hạ đi dò la sự tình.

Bộ hạ Long Vương theo con đường sóng ngầm lọt vào cửa sông thì thấy Dã Tràng đang cầm ngọc khoắng vào nước.

Mỗi lần khoắng như thế, họ cảm thấy xiêu người, nhức óc.

Tuy biết thủ phạm, họ cũng không dám làm gì cả, chỉ tiến đến dùng lời khéo mời ông xuống chơi thuỷ cung.

Gặp Long Vương, Dã Tràng cho biết là mình chỉ làm thử để xem phép có hiệu nghiệm chăng.

Long Vương và triều thần nghe nói, ai nấy đều xanh mặt.

Nếu hắn làm thật thì thuỷ phủ sẽ không còn gì nữa.

Vì thế, Long Vương đã tiếp đãi Dã Tràng rất hậu, ông muốn gì có nấy.

Cho đến lúc ra về, Long Vương đem vàng bạc cống tiến rất nhiều để mong ông nể mặt.

Dã Trang lên khỏi nước có thuộc hạ của Long Vương tiễn chân về tới tận nhà mới trở lại.

Bà con xóm giềng thấy ông đã không việc gì mà lại còn trở nên giàu có thì ai cũng lấy làm mừng.

Từ đó Dã Tràng rất quý hai viên ngọc.

Ông may một cái túi đựng nó và luôn đeo ở cổ.

Một hôm, Dã Tràng đi bộ nửa ngày đường đến nhà một người bà con ăn giỗ.

Lúc đến nơi, Dã Tràng sờ lên cổ mình mới nhớ là mình vì quá vội vã nên đã bỏ quên mất túi ngọc ở nhà.

Ông không thể nào an tâm ngồi ăn được.

Mọi người đều lấy làm ngạc nhiên khi thấy ông vừa chân ướt chân ráo đến nơi đã vội cáo từ về ngay.

Nhưng khi về đến nhà, ông tìm mãi không thấy túi ngọc đâu cả.

Người rụng rời cả, đi tìm vợ không thấy.

Nóng ruột, ông lục lọi khắp nơi.

Cuối cùng ông bắt được một mảnh giấy di vợ viết để lại gài ở chỗ treo áo, trong đó vợ ông nói rằng: có người của Long Vương lên bảo cho biết hễ ai bắt được túi ngọc đưa xuống dâng cho Long Vương thì sẽ được làm hoàng hậu.

Bởi vậy bà ta đã trộm phép ông đưa túi ngọc xuống thuỷ phủ rồi, không nên tìm làm gì cho mệt.

Đọc xong thư vợ, Dã Tràng ngất đi.

Ông không ngờ vợ ông lại có thể như thế được.

Ông cũng không ngờ âm mưu của Long Vương lại thâm độc đến nước ấy.

Nghĩ đến hai thứ báu vật, ông giận tím ruột.

Sau cùng, ông dự tính chở cát lấp biển thành một con đường đi xuống thuỷ phủ để lấy lại túi ngọc, vì ông còn nhớ cả đường lối đến cung điện của Long Vương.

Mặc dầu mọi người can ngăn ông, ông cũng dọn nhà ra bờ biển để làm công việc đó.

Ngày ngày ông xe cát chở đến bờ quyết lấp cho bằng được.

Cho đến tận lúc chết, Dã Tràng vẫn không chịu bỏ dở công việc.

Chết rồi ông hoá thành con còng còng hay cũng gọi là Dã Tràng, ngày ngày xe cát để lấp biển.

“Theo kho tàng truyện cổ tích Việt Nam – NXB Văn Học”

Truyện cổ tích sự tích con dã tràng
Truyện cổ tích sự tích con dã tràng

Bài học rút ra từ truyện cổ tích “Sự tích con Dã Tràng”

Câu chuyện “Sự tích con Dã Tràng” đã giải thích nguồn gốc của hành động “xe cát biển Đông” này, là để lấp biển thành một con đường đi xuống thuỷ phủ để lấy lại túi ngọc.

Nhưng Dã Tràng có lấp biển thành công không?

Không bao giờ, vì sức của ông chỉ có hạn, mỗi lần ông chỉ chở được một xe cát nhỏ, mà biển Đông thì vô cùng rộng lớn.

Qua đây ta có thể thấy, hành động “xe cát biển Đông” là một hành động vô ích và lãng phí thời gian.

Việc xe cát lấp biển Đông là một công việc nhọc nhằn mà không mang lại kết quả gì.

Câu chuyện cũng chế giễu những người thiếu suy nghĩ, làm những việc vô ích

Dân gian Việt Nam có câu:

Dã tràng xe cát biển Đông

Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì

Đồng thời, câu chuyện cũng khuyên nhủ chúng ta phải biết suy nghĩ chín chắn trước khi làm bất cứ việc gì, phải biết phân tích tình hình, đưa ra kế hoạch rõ ràng để đạt được mục tiêu, không nên làm những việc phi thực tế.

Thảo Duyên

Blog Con Mọn

Bình Luận