TRUYỆN CỔ TÍCH SỰ TÍCH SÔNG NHÀ BÈ

Sự tích sông Nhà Bè là một truyện trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Câu chuyện nói về nguồn gốc hình thành nên cái tên sông Nhà Bè, đồng thời cũng truyền đạt nhiều bài học mang ý nghĩa sâu sắc. Hãy cùng đọc truyện cổ tích Sự tích sông Nhà Bè và tìm hiểu ý nghĩa của câu chuyện nhé.

Truyện cổ tích Sự tích sông Nhà Bè

Ngày xưa, ở Gia Định có một người tên là Thủ Huồn (có sách ghi là Thủ Huồng, Thủ Hoằng)

Hắn xuất thân làm thơ lại.

Trong hơn hai mươi lăm năm luồn lọt trong các Nha các Ty, hắn đã làm cho bao nhiêu gia định tan nát, bao nhiêu người oan uổng; do đó hắn đã vơ vét được bao nhiêu là tiền của.

Vợ hắn chết sớm lại không có con cho nên tiền bạc của hắn không biết tiêu đâu cho hết.

Ngoài số chôn cất, hắn đem tiền tậu ruộng làm nhà.

Ruộng của hắn cò bay thẳng cánh, mỗi mùa thu hoạch kể hàng ngàn giạ lúa.

Khi thấy cuộc sống quá thừa thãi, hắn bèn thôi việc về nhà, sống một cuộc đời trưởng giả.

Một hôm, có người mách cho Thủ Huồn biết chợ Mảnh Ma ở Quảng Yên là chỗ người sống và người chết có thể gặp nhau.

Muốn gặp người chết, người sống phải chờ đến mồng một tháng sáu mang một món hàng vào chợ nửa đêm mà đi tìm.

Thủ Huồn là người rất yêu vợ.

Tuy vợ chết đã ngoài mười năm, nhưng hắn vẫn không lúc nào quên.

Hắn bèn giao nhà lại cho người bà con rồi làm một chuyến du lịch ra Bắc, mong gặp mặt vợ cho thoả lòng thương nhớ bấy lâu.

Khi gặp vợ, Thủ Huồn không dám hỏi vì thấy vợ ăn mặc rất đài các.

Sau cùng người đàn bà ấy cũng nhận ra được.

Thủ Huồn mừng quá dắt vợ ra một chỗ, kể cho vợ nghe cảnh sống của mình từ lúc âm dương cách biệt.

Rồi hắn hỏi vợ:

– Mình lâu nay làm gì?

– Tôi là vú nuôi trong cung vua. Cuộc đời của tôi không có gì đáng phàn nàn. Tôi có một gian nhà riêng trong hoàn cung, cái ăn cái để được chu cấp đầy đủ.

Hắn nói:

– Tôi nhớ mình quá. Tôi muốn theo mình xuống dưới ấy ít lâu có được không?

– Đi được nhưng chỉ trong vài ngày là cùng, nếu quá hạn sẽ nguy hiểm.

Thủ Huồn và vợ cùng đi.

Qua mấy dặm đường tối mịt, chả mấy chốc đã đến cõi âm.

Hắn rùng mình khi lọt qua bao nhiêu cổng trước lúc vào thành nội, qua những tên quỷ gác cổng có những bộ mặt gớm ghiếc.

Nhờ có vợ nên chỗ nào cũng vào được trót lọt.

Đến một gian nhà thấp, vợ bảo chồng:

– Đây là nhà bếp, đằng kia là nhà ngục trước mặt Cung hoàng hậu, chỗ tôi túc trực hàng ngày.

Qua khỏi đấy là Cung vua.

Cứ ẩn tạm trong buồng vắng này vì không thể lên buồng tôi trên kia được.

Tôi sẽ kiếm cách cho chàng đi xem một vài chỗ, nhưng rồi phải về ngay.

Chiều hôm đó, người vợ vè trao cho Thủ Huồn một mảnh giấy phép và nói:

– Chỉ có Cung vua và Cung hoàng hậu thì đừng có vào, còn mọi nơi khác chàng cứ đi xem cho thoả thích.

Hắn lượn mấy vòng xung quanh nhà bếp rồi tiện chân đến ngục.

Chưa lọt khỏi cổng mà những tiếng kêu khóc, tiếng la thét ở phía trong làm cho hắn bồn chồn.

Qua mấy phòng chuyên mổ bụng, móc mắt, cắt tay, v.v… hắn thấy đây quả là nơi hành hạ tội nhân kinh khủng, đúng như lời đồn ở trên trần thế.

Sau cái bàn xẻo thịt là cả một kho gông.

Trong đó có một cái gông đặc biệt: nó vừa to vừa dài, làm bằng những thanh gỗ nặng như sắt.

Thủ Huồn lân la hỏi người cai ngục:

– Thứ gông này để làm gì?

– Để chờ một thằng ác nghiệt ở trần xuống đây.

Bao nhiêu những cái gông trong này đều đã có chủ cả.

Cứ xem gông to hay gông nhỏ thì biết tội ác của nó.

Thủ Huồn lại hỏi:

– Thế cái thằng sẽ đeo cái gông vừa to vừa dài đó là ai?

Lão cai ngục thủng thỉnh giở một cuốn sách vừa to vừa dày, chỉ vào một hàng chữ đọc:

– Hắn là Võ Thủ Hoàng tức là Thủ Huồn.

Rồi tiếp:

– Thằng cha đó ở Đại Nam quốc, Gia Định tỉnh, Phúc Chính huyện…

Nghe nói thế, Thủ Huồn giật mình, mặt xám ngắt.

Nhưng hắn vẫn giữ được vẻ điềm tĩnh. Hắn hỏi thêm:

– Thế nào? Hắn có tội gì?

Lão cai ngục mắt vẫn không rời sách:

– Khi làm thơ lại, hắn bẻ mặt ra trái bao nhiêu việc oan khốc đến nỗi tội ác của hắn đen kín cả mấy trang giấy đây.

Này nghe tôi đọc này: năm Ất Sửu hắn sửa hai chữ “ngộ sát” thành “cố sát”, làm cho hai mẹ con thị Nhàn bị chết để cho người anh họ chiếm đoạt gia tài.

Việc này Thủ Huồn được mười nén vàng và mười nén bạc, một trăm quan tiền.

Cũng năm đó, hắn làm cho ông Ngô Lai ở thôn Bình Ca bị hai mươi năm tội đồ chỉ vì trong nhà có cái áo vải vàng, để đoạt không của ông ta mười hai mẫu ruộng.

Năm…

Thủ Huồn tái mặt, không ngờ mỗi một cái động tay động chân của mình trên kia, dưới này đều rõ mồn một.

Hắn ngắt lời đánh trống lảng:

– Thế vợ hắn có cùng đeo gông không hở ông?

– Ồ! Ai làm người ấy chịu chứ. Vợ hắn nghe đâu là người tốt đã xuống đây rồi.

Thủ Huồn lại hỏi gặng:

– Ví thử hắn muốn hối cải thì phải làm thế nào?

Lão cai ngục bỏ sách xuống bàn, đáp:

– Đã vay thì phải trả! Nếu hắn muốn thì phải đem những thứ của cải cướp giật được đó bố thí và cúng lễ cho hết đi.

Từ biệt lão cai ngục và những hình cụ khủng khiếp, Thủ Huồn không còn bụng dạ nào để đi xem nơi khác nữa.

Vợ thấy chồng đòi về, lại đưa chồng ra khỏi hoàng cung của Diêm Vương và ra khỏi mấy dặm đường tối tăm mù mịt.

Lúc sắp chia tay hắn bảo vợ:

– Tôi về trang trải công nợ có lẽ ba năm nữa tôi lại xuống. Mình nhớ lên chợ đón nghe.

Về tới Gia Định, Thủ Huồn mạnh tay bố thí.

Hắn tập hợp những người nghèo khó trong vùng lại, phát cho họ tiền lúa.

Hắn đem ruộng đất của mình cúng cho làng, cho chùa, chia cho họ hàng thôn xóm.

Hắn mời hầu hết sư, sãi các chùa gần vùng tới nhà mình cúng cơm, tốn kém kể tiền vạn.

Người ta lấy làm lạ không hiểu tại sao một tay riết róng như hắn bây giờ trở nên hào phóng một cách lạ thường.

Ai xin gì được nấy, có những người trước chửi hắn bây giờ lại đâm ra thương hại hắn.

Nhiều người bảo nhau:

– Thứ của vô nhân bất nghĩa ấy không trước thì sau thế nào cũng đội nón ra đi mà thôi.

Hay là:

– Có lẽ vì hắn không con, biết để của cũng chả ích gì nên hắn làm cho vợi bớt.

Thủ Huồn có nghe rất nhiều lời đàm tiếu về mình, nhưng hắn chẳng nói gì cả, cứ việc quẳng của, không tiếc tay.

Cứ như thế sau ba năm, Thủ Huồn tính ra đã phá tán được ba phần tư cơ nghiệp.

Nhớ lại lời hẹn, hắn lại khăn gói ra Bắc tìm đến chợ Mảnh Ma, ở đây, hắn dỗ khéo được vợ cho hắn xuống thăm cõi âm một lần nữa.

Khi trở lại nhà ngục, Thủ Huồn thấy quang cảnh vẫn như cũ: Lão cai ngục vẫn là lão cai ngục ba năm về trước.

Cách bố trí y hệt như xưa: cũng có nơi mổ bụng, nơi móc mắt, cắt tay, v.v…

Duy chỗ để gông thì có ít nhiều thay đổi.

Bên cạnh những cái vẫn còn nguyên hình như xưa thì lại có những cái trước bé nay đã lớn lên, có cái trước lớn hay nhỏ hẳn đi.

Đặc biệt cái gông của hắn đã nhỏ hẳn đi tuy còn to và dài hơn các thứ gông thường một tí.

Hắn lân la hỏi lão cai ngục:

– Cái gông để ở nơi này trước kia tôi nhớ hình như to lắm thì phải.

– Đúng đấy! – Lão Đáp.

Có lẽ gần đây ở trên dương thế thằng cha ấy đã biết chuộc lỗi, nên nó đã nhỏ lại.

Nếu hắn gắng hơn nữa, thì rồi sẽ có phúc lớn.

Thủ Huồn lại lên đất, trở về Gia Định.

Hắn lại tiếp công việc bố thí và cúng đàng.

Lần này hắn bán hết tất cả những gì còn sót lại, kể cả nhà hắn ở.

Hắn đến Biên Hoà dựng một ngôi chùa lớn để cúng Phật.

Hắn xuôi sông Đồng Nai để làm một việc nghĩa cuối cùng.

Hồi đó ngã ba sông Đồng Nai và sông Gia Định việc đi lại rất bất tiện.

Cũng vì thế mà bên kia sông Đồng Nai người ta còn ngần ngại chưa dám di cư sang để sinh cơ lập nghiệp.

Thủ Huồn bèn quyết định ở lại đây.

Hắn kết một cái bè lớn, trên bè có nhà ở, có đủ chỗ nghỉ, có sẵn nồi niêu, đồ dùng và tiền gạo.

Những thứ ấy hắn dùng để tiếp rước những người qua lại nhất là những người nghèo khó.

Hắn cho họ trú ngụ tại bè của mình, kẻ năm ba ngày, người một đôi tháng mà không lấy tiền.

Hắn làm công việc đó mãi cho đến ngày xuống âm phủ thật sự.

Sau đó khá lâu, có một ông vua tên là Đạo Quang bên Trung Quốc lúc mới lên ngôi có cho sứ sang Việt Nam hỏi lai lịch một người ở Gia Định.

Số là khi nhà vua mới sinh, người ta thấy trong lòng bàn tay vua có mấy chữ “Đại Nam, Gia Định, Thủ Hoằng” nên nhà vua cần biết rõ lai lịch.

Vua Trung Quốc có cúng vào ngôi chùa Biên Hoà ba pho tượng vàng.

Do việc đó người ta bảo Thủ Huồn nhờ thành thực hối lỗi, chẳng những làm tiêu mất cái gông chờ hắn ở cõi âm mà còn được Diêm Vương cho đi đầu thai làm vua Trung Quốc.

Ngày nay, một ngôi chùa ở Biên Hoà còn mang tên là Thủ Huồn.

Chỗ ngã ba sông Đồng Nai và Gia Định còn gọi là sông Nhà Bè để kỷ niệm lòng tốt của Thủ Huồn đối với khách bộ hành Nam Bắc qua con sông đó.

Có câu tục ngữ:

Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định – Đồng Nai thì về.

“Theo Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam – NXB Văn học”

Truyện cổ tích sự tích sông nhà bè - song ngữ
Truyện cổ tích sự tích sông nhà bè – song ngữ

Bài học ý nghĩa rút ra từ truyện cổ tích “Sự tích sông Nhà Bè”

Qua truyện sự tích sông Nhà Bè, chúng ta rút ra những bài học như sau:

Thứ nhất, ác giả ác báo

Vì vậy chúng ta hãy luôn sống ngay thẳng và lương thiện nhé!

Thủ Huồn đã làm bao nhiêu chuyện ác ở trên trần gian, cứ tưởng người không biết, quỷ không hay.

Thế nhưng không ngờ mỗi một cái động tay động chân của hắn ở trên trần gian, dưới này đều rõ mồn một.

Tội ác của hắn càng nhiều, thì chiếc gông chờ hắn càng to ra.

Cho dù trên trần gian không có ai trừng trị hắn, thì dưới âm tào địa phủ luôn có hình phạt thích đáng dành cho những kẻ độc ác.

Thứ hai, quay đầu là bờ

Tốt hay xấu là tự do ta, do cách nhìn nhận riêng của mỗi người.

Khi đã lầm đường lạc lối, thì quay đầu chính là bờ.

Không có chuyện gì sai lầm mà không thể sửa chữa được.

Vì vậy, một khi nhận ra mình đã sai, hãy quay đầu lại để sửa chữa những sai lầm đó.

Thủ Huồn sau khi trở về trần gian đã mạnh tay bố thí cho những người nghèo khó, tốn kém tiền vạn để mời sư, sãi các chùa gần vùng về cúng cơm.

Chính vì thế mà ba năm sau, chiếc gông dành cho hắn đã nhỏ hẳn đi.

Nhưng điều đó chưa đủ để bù đắp cho những tội lỗi của mình gây ra, nên sau khi trở về Gia Định, hắn quyết định bán hết tất cả những gì còn sót lại và đến Biên Hoà dựng một ngôi chùa lớn để cúng Phật.

Hắn còn kết một cái bè lớn, trên bè có nhà ở, có đủ chỗ nghỉ, có sẵn nồi niêu đồ dùng và tiền gạo để tiếp rước vô số những người nghèo khó mà không lấy tiền.

Sự thành thực hối lỗi của hắn đã chuộc lại được những tội ác trước kia, chẳng những làm tiêu mất cái gông chờ hắn ở cõi âm, mà còn được Diêm Vương cho đi đầu thai làm vua Trung Quốc.

Vì vậy, mọi việc trên đời này đều có nhân có quả: “ác giả ác báo, thiện giả thiện lai”.

Thảo Duyên

Blog Con Mọn

Bình Luận